THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021

I. Những thuận lợi và khó khăn trong năm 2021

Việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Dịch bệnh Covid-19 đợt thứ 4 bùng phát trong 6 tháng cuối năm với mức độ phức tạp, lây lan nhanh, kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh, tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và đời sống Nhân dân. Doanh nghiệp bị đứt gãy sản xuất; các cơ sở kinh doanh dịch vụ đóng cửa; người lao động mất, giảm việc làm; công tác giải ngân nguồn vốn đầu tư công chậm; công tác giải phóng mặt bằng nhiều vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ triển khai một số dự án quy mô lớn

Bên cạnh những khó khăn trên, việc tổ chức thành công cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 được diễn ra đúng luật, an toàn, trang trọng, tạo không khí dân chủ và thật sự là ngày hội của toàn dân. Phát triển nông nghiệp thuận lợi vì nguồn nước tưới đầy đủ; vốn đầu tư toàn xã hội vẫn giữ mức cao, tập trung chính vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, tiếp tục mục tiêu đưa tỉnh trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước; sản xuất điện tăng trưởng cao, tiếp tục là ngành mũi nhọn của cả nền kinh tế tỉnh nhà.

II. Kết quả đạt được 

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2021 ước tăng 9,0% so với năm trước, mức tăng cao thứ 4 của cả nước (gồm 1.Hải Phòng 12,38%; 2.Quảng Ninh 10,28%; 3.Gia Lai 9,71%) và đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung. Trong đó, ngành công nghiệp tăng 38,06%, với sản xuất điện là đầu tàu phát triển.

GRDP (tính theo giá so sánh 2010) năm 2021 ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,98%, đóng góp 1,82 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 23,67%, đóng góp 6,98 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 0,02%, đóng góp 0,007 điểm phần trăm; thuế sản phẩm tăng 3,26%, đóng góp tăng 0,2 điểm phần trăm.  

            Về cơ cấu kinh tế (GRDP) năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 30,02%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,96%; khu vực dịch vụ chiếm 28,15%; thuế sản phẩm chiếm 5,87%. (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2020 là: 30,77%; 31,29%; 31,72%; 6,22%). Những năm gần đây, cơ cấu ngành kinh tế có xu hướng chuyển dịch về công nghiệp-xây dựng, dịch vụ và nông, lâm, thủy sản.

            GRDP bình quân đầu người năm 2021 đạt 68,4 triệu đồng, tăng 8,4 triệu so với năm 2020.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

   Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 nhìn chung phát triển thuận lợi. Dù một vài nơi khô hạn cục bộ, và dịch bệnh Covid-19, nhưng tỉnh đã có những chỉ đạo kịp thời, hiệu quả nên diện tích gieo trồng cả 3 vụ tăng cao so với cùng kỳ, cây lúa được mùa; sản lượng các loại cây lâu năm tăng khá; lượng thịt hơi gia súc, gia cầm xuất chuồng ổn định; khai thác biển khả quan.

a) Nông nghiệp

            Diện tích lúa năm 2021 đạt 44,1 nghìn ha, tăng 16,1 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 62,4 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha, điều kiện thời tiết thuận lợi và diện tích gieo trồng tăng nên sản lượng lúa ước tính đạt 275,48 nghìn tấn, tăng 74,5 nghìn tấn.

   Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 51,86 nghìn tấn, tăng 3,76 nghìn tấn so với năm 2020 do diện tích gieo trồng tăng 1,26 nghìn ha; mía đạt 119,5 nghìn tấn, giảm 0,7 nghìn tấn (diện tích thu hoạch giảm 223,8 ha); sắn đạt 76,1 nghìn tấn, giảm 20,2 nghìn tấn (diện tích giảm 922,5 ha); lạc đạt 1,1 nghìn tấn, giảm 77 tấn (diện tích giảm 86,1 ha); sản lượng rau các loại đạt 161,4 nghìn tấn, tăng 2,6 nghìn tấn (diện tích tăng 667,4 ha); sản lượng đậu các loại đạt 2,7 nghìn tấn, giảm 69,6 tấn (diện tích giảm 107,5 ha).

   Diện tích trồng cây lâu năm năm 2021 đạt 12,3 nghìn ha, giảm 2,1% so với năm 2020, bao gồm nhóm cây ăn quả đạt hơn 6,3 nghìn ha, giảm 4,2%; nhóm cây công nghiệp đạt hơn 4,9 nghìn ha, giảm nhẹ 0,04%; nhóm cây lấy dầu đạt hơn 0,4 nghìn ha, tăng 14,9%; nhóm cây lâu năm còn lại đạt 0,6 nghìn ha, giảm 7,1%. Trong nhóm cây ăn quả, sản lượng Nho đạt 26 nghìn tấn, giảm 3,6%; Táo đạt 36,7 nghìn tấn, giảm 0,1%; Sầu riêng 0,6 nghìn tấn, tăng 31,7%; Bưởi 1,3 nghìn tấn, tăng 30,5%. Trong nhóm cây công nghiệp, điều diện tích đạt 4,7 nghìn ha, giảm 0,3% so với năm trước, sản lượng đạt 1,2 nghìn tấn, tăng 3,5%.

Chăn nuôi gia súc có sừng có xu hướng giảm do đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. Đàn trâu trong tỉnh chủ yếu dùng cho nhu cầu cúng tế của đồng bào Chăm. Đàn bò và đàn dê, cừu có xu hướng giảm do đồng cỏ tự nhiên giảm dần để phát triển các dự án năng lượng mặt trời, cộng thêm hàng năm tình hình khô hạn thường xảy ra. Dịch bệnh Viêm da nổi cục trên bò xảy ra với 4.762 con bệnh; chết tiêu hủy 350 con, ước thiệt hại trên 5,4 tỷ đồng. Ước tính cuối năm 2021, tổng số trâu tăng 1,3% so với cùng thời điểm năm 2020; tổng số bò giảm 0,7%; tổng số dê, cừu giảm 5,3%.

   Từ đầu quý III đến nay, dịch Covid-19 bùng phát mạnh tại Ninh Thuận và các tỉnh phía Nam, đã hạn chế thả nuôi mới làm giảm tổng đàn và lượng cung. Đến cuối quý III, đàn heo tăng tái lập đàn trở lại để chuẩn bị xuất chuồng trong tháng cận tết Nguyên Đán. Ước tính tổng số heo cả tỉnh cuối năm 2021 tăng 21,7% so với cùng thời điểm năm 2020.

   Đàn gia cầm trong năm nhìn chung ổn định, dịch bệnh trên đàn gia cầm được kiểm soát tốt, nhu cầu và giá tiêu thụ không biến động nhiều. Đàn vịt chạy đồng thuận lợi ăn đồng tăng số lượng, đàn gà ảnh hưởng tình hình tiêu thụ của dịch Covid-19 nên hộ giảm nuôi. Ước tính tổng số gia cầm cuối năm 2021 tăng 12,5% so với cùng thời điểm năm 2020.

b) Lâm nghiệp

Tính chung cả năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả tỉnh ước tính đạt 298,6 ha, giảm 55,5% so với năm trước do không còn trồng theo Dự án bảo vệ và phát triển lâm nghiệp. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 201,6 nghìn cây, giảm 63,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2 nghìn m3, tăng 85% do có một phần lớn diện tích gỗ rừng trồng được khai thác trắng từ Trường Đại học Nông Lâm TPHCM Phân hiệu Ninh Thuận; sản lượng củi khai thác đạt 17,7 nghìn ste, tăng 7,3%.

            Diện tích rừng bị thiệt hại năm 2021 (tính đến 15/12/2021) là 28,5 ha, tăng 79,6% so với năm trước, toàn bộ là diện tích rừng bị chặt phá.

c) Thủy sản

            Năm 2021, tổng sản lượng thủy sản năm 2021 ước đạt 133,8 nghìn tấn, tăng 4,1% so với năm 2020. Bao gồm cá đạt 121,3 nghìn tấn, tăng 6,4%; tôm đạt 6,3 nghìn tấn, giảm 11,4%; thủy sản khác đạt 6,2 nghìn tấn, giảm 17,4%. Đây là năm thứ hai liên tiếp tăng về sản lượng khai thác và giảm nuôi trồng.

            Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả tỉnh ước đạt 9,7 nghìn tấn, giảm 5,5% so với năm trước, trong đó tôm đạt 5,9 nghìn tấn, giảm 8,4%. Trong năm, do ảnh hưởng dịch Covid-19, tính toán hiệu quả kinh tế không đáng kể, thậm chí thua lỗ nên người nuôi hạn chế đầu tư nên diện tích thả nuôi giảm, vì vậy sản lượng tôm thẻ chân trắng thu hoạch thấp, ước năm khoảng 5.800 tấn, giảm 8,7% so năm 2020.

            Sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 124,1 nghìn tấn, tăng 4,9% so với năm trước; trong đó cá đạt 120,3 nghìn tấn, tăng 6,4%; tôm đạt 0,4 nghìn tấn, giảm 39,5%; thủy sản khác đạt 3,3 nghìn tấn, giảm 27,2%. Thời tiết biển trong năm nhìn chung thuận lợi, lượng cá xuất hiện nhiều, nhất là cá cơm, cá nục phù hợp với nghề khai thác truyền thống pha xúc, lưới vây của tỉnh.

            Tình hình dịch Covid-19 bùng phát mạnh ở các tỉnh miền Tây Nam bộ đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản, hoạt động sản xuất nói chung, thả nuôi thủy sản nói riêng, làm giảm năng lực sản xuất tôm giống của tỉnh ở 6 tháng cuối năm 2021. Dự ước năm 2021, toàn tỉnh sản xuất khoảng 39,4 tỷ con giống, giảm 4,1% so với cùng kỳ (trong đó tôm sú giống 7,7 tỷ con; tôm thẻ giống đạt 31,3 tỷ con).

3. Sản xuất công nghiệp

   Do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều làm lượng điện sản xuất đạt thấp nên tốc độ tăng chỉ số sản xuất Công nghiệp (IIP) quý IV/2021 đạt 6,33%, thấp nhất trong bốn quý (quý I đạt 50,63%; quý II đạt 29,77%, quý III đạt 16,53%). Tính chung cả năm, chỉ số IIP tăng 24,64% so với năm trước, trong đó sản xuất và phân phối điện tăng 43,11%, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế.

   Chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp năm 2021 ước tính tăng 24,64% so với năm 2020 (năm 2020 tăng 39,43%). Trong đó, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng 43,11%; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,53%, mức tăng thấp do ảnh hưởng dịch Covid-19 và không có năng lực mới tăng trong ngành; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,15%; ngành khai khoáng giảm 31,57%, chủ yếu ngành khai thác muối biển giảm 45,85% so cùng kỳ năm trước do giá cả và số lượng muối biển tiêu thụ rất thấp, muối tồn kho nhiều, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tác động làm giảm -2,29 điểm % vào chỉ số chung toàn ngành công nghiệp.

            Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2021 tăng cao so với năm trước: Sản xuất đ­ường đạt 7,3 nghìn tấn, tăng 58,8% so với năm trước, nguồn mía nguyên liệu đáp ứng đủ theo nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp (6 tháng đầu năm). Điện sản xuất ước đạt 6,4 t kwh, tăng 38%; trong đó, điện năng lượng tái tạo đã cung cấp sản lượng ước đạt 4,9 t kwh, tăng 48,8%. Tôm đông lạnh là sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong giá trị ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tình hình tiêu thụ thuận lợi giúp cho sản xuất ước đạt 8,8 nghìn tấn, tăng 24,7%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ: Khai thác muối biển: mặc dù tình hình thời tiết thuận lợi, nhưng lượng tiêu thụ chậm và giá tiêu thụ giảm nhiều so với cùng kỳ, nên sản lượng khai thác ước chỉ đạt 254,1 nghìn tấn, giảm 45,8% so năm trước (lượng muối sản xuất, tồn kho tương đương). Xi măng các loại: ước đạt 200,5 nghìn tấn, giảm 12,4%, các công trình xây dựng tạm ngừng thi công do giãn cách đã ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm. Hạt điều khô: do tác động bởi tình hình dịch bệnh tại các thị trường tiêu thụ chính, dự kiến sản xuất ước đạt 4 nghìn tấn, giảm 12,9%. Bia các loại: dự kiến sản xuất đạt hơn 39,1 triệu lít, giảm 0,9% (do dịch vụ ăn uống, du lịch ngưng trệ bởi đợt bùng phát dịch Covid lần thứ 4); đây là sản phẩm đóng góp nhiều trong cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và toàn ngành công nghiệp của địa phương. Sản xuất tinh bột mỳ sản xuất 10,6 nghìn tấn, tăng 9,3%.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

   Khu vực doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong năm 2021 do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19. Tính đến ngày 15/12/2021, cả tỉnh có 368 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 43,2% so với năm trước; số vốn đăng ký mới cũng giảm 54,5%; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng 52,1%. Điểm sáng là có 99 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,6%; số doanh nghiệp giải thể giảm 8,2%.

Tính đến ngày 15/12/2021, có 368 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn 2.981 tỷ đồng, giảm 43,2% số doanh nghiệp và giảm 54,5% số vốn đăng ký so cùng kỳ; trong đó, một số lĩnh vực giảm, như: sản xuất điện giảm 96,1%; xây dựng giảm 40,2%. Số lao động đăng ký trong các doanh nghiệp mới 2.329 lao động, chỉ bằng 58,4% so cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đến ngày 15/12/2021, có 3.823 doanh nghiệp/74.890 tỷ đồng.

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 28,6% so cùng kỳ; 78 doanh nghiệp giải thể, giảm 8,2%; 178 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 52,1%.

5. Thương mại và dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

            Hoạt động thương mại dịch vụ trong năm 2021 gặp nhiều khó khăn do đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư vào 6 tháng cuối năm. Nguy cơ nhiễm bệnh cao làm cho nhu cầu tiêu dùng, du lịch, vui chơi giải trí của người dân giảm, cùng với nhiều văn bản chỉ đạo tạm dừng một số dịch vụ không thực sự cần thiết đã ảnh hướng đến mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ. Tuy vậy, việc kiểm soát dịch tốt trong 6 tháng đầu năm góp phần làm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2021 tăng nhẹ 1,2% so với năm trước.

Năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 24.179,7 tỷ đồng, tăng 1,2% so với năm 2020, mức tăng thấp nhất trong các năm 2016-2021 (năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020 có mức tăng so với năm trước lần lượt là 11,9%, 13,3%, 15,1%, 12,7%, 4,8%).

            Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm nay ước đạt 20.028,1 tỷ đồng, chiếm 82,8% tổng mức và tăng 6% so với năm trước, đây là mức tăng thấp nhất trong 6 năm gần đây (năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020 có mức tăng so với năm trước lần lượt là 9,3%, 12,9%, 15,4%, 12,3%, 8,3%). Trong đó: ngành hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,1%; lương thực, thực phẩm tăng 5,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 3,6%; may mặc giảm 13,3%; phương tiện đi lại giảm 26,7%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 2.579,8 tỷ đồng, chiếm 10,7% và giảm 17,6%. Doanh thu du lịch lữ hành đạt 1,3 tỷ đồng, chiếm 0,006% và giảm 42,2%, do tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước và thế giới diễn biến phức tạp làm nhu cầu du lịch của người dân giảm do lo ngại dịch bệnh lây lan. Doanh thu dịch vụ khác đạt 1.570,4 tỷ đồng, chiếm 6,5% và giảm 15,5%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa

            Diễn biến dịch bệnh Covid-19 phức tạp trong những tháng cuối năm làm lượng hành khách vận chuyển quý IV giảm 0,9% so với quý trước và giảm 80,2% so với cùng kỳ năm trước; nhưng hoạt động vận tải hàng hóa vẫn thông suốt với mức tăng 76,5% và 3,3%. Tính chung cả năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 48% và vận chuyển hàng hóa giảm 2,6% so với năm trước.

            Vận tải hành khách tháng Mười Hai ước tính đạt 0,26 triệu lượt khách, gấp 7,37 lần so với tháng trước và 18 triệu lượt khách.km, gấp 7,26 lần; quý IV năm nay vận tải hành khách đạt 0,33 triệu lượt khách, giảm 80,2% so với cùng kỳ năm trước và 23 triệu lượt khách.km, giảm 82,1%. Tính chung cả năm 2021, vận tải hành khách đạt 2,6 triệu lượt khách, giảm 48% so với năm trước và 196,7 triệu lượt khách.km, giảm 49,9%.

   Vận tải hàng hóa tháng Mười Hai ước tính đạt 1 triệu tấn, tăng 29,8% so với tháng trước và 69,9 triệu tấn.km, tăng 31,9%; quý IV năm nay vận tải hàng hóa ước tính đạt 2,4 triệu tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước và 172,3 triệu tấn.km, tăng 1,9%. Tính chung năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 7,3 triệu tấn, giảm 2,6% so với năm trước và 530,3 triệu tấn.km, giảm 3,5%.

          c. Dịch vụ bưu chính, viễn thông

            Hoạt động bưu chính, viễn thông năm 2021 vẫn giữ mức tăng ổn định về doanh thu mặc dù tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp.

            Sản lượng dịch vụ bưu chính ước thực hiện trong năm 2021 là hơn 3 triệu bưu gửi và 3,4 triệu bưu phát, tăng 20% so với năm trước; doanh thu ước đạt 86,2 tỷ đồng, tăng 19%. Trong đó, sản lượng bưu gửi qua dịch vụ bưu chính công ích theo Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ước thực hiện là 99.500 bưu gửi, tăng 54% so với năm trước, doanh thu ước đạt 1,8 tỷ đồng, tăng 51%. Nguyên nhân tăng là do dịch vụ chuyển phát hồ sơ BHXH và thẻ căn cước công dân tăng mạnh so với năm 2020.

       Tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh là 680 nghìn thuê bao, đạt mật độ 115 thuê bao/100 dân (trong đó mật độ điện thoại cố định và di động trả sau đạt 15,6 thuê bao/100 dân).

       Tổng số thuê bao internet băng rộng trên toàn tỉnh là 324,5 nghìn thuê bao; đạt Mật độ internet trên toàn tỉnh là 95 thuê bao/100 dân. (Mật độ thuê bao internet tăng cao là do quy đổi 83.929 thuê bao internet hộ gia đình thành 313.810 người sử dụng). Tổng doanh thu sản xuất, kinh doanh dịch vụ viễn thông trong năm 2021 ước đạt 787,2 tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ.

            c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

   Dịch bệnh Covid-19 bùng phát đợt thứ tư trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng cuối năm 2021 đã gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất khẩu. Ước tính, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 600 triệu USD, giảm 4,5%, trong đó xuất khẩu đạt 113 triệu USD, tăng 25,6%; nhập khẩu đạt 487 triệu USD, giảm 9,5%. Cán cân thương mại năm 2021 của tỉnh tiếp tục nhập siêu, đạt mức 374 triệu USD, giảm 16,6% so với năm trước.

Xuất khẩu hàng hóa : Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2021 ước tính đạt 113 triệu USD, tăng 25,6% so với năm trước và đạt 113% so kế hoạch (100 triệu USD). Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: thủy sản ước đạt 58 triệu USD, tăng 65,7%; hạt điều nhân ước đạt 30 triệu USD, không tăng không giảm; mặt hàng khác ước đạt 25 triệu USD, không tăng không giảm. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Mỹ, Nhật, Canada, Đức, Pháp, Trung Quốc, Hà Lan, Anh, Singapore,.... Năm 2021, nước ta bị ảnh hưởng nặng nề do đợt dịch Covid-14, tuy nhiên tại các thị trường xuất khẩu chủ lực là Mỹ, Nhật, Đức...tình hình dịch bệnh cơ bản đã được khống chế do đó không gây ảnh hưởng nhiều đến kim ngạch xuất khẩu của tỉnh nhà. Trong quý III/2021, một số doanh nghiệp gặp khó khăn do giảm số lao động làm việc tại tại công ty và chi phí vận chuyển tăng cao. Tuy nhiên, đến nay các doanh nghiệp xuất khẩu đang trong giai đoạn phục hồi sản xuất và hoạt động bình thưởng để đảm bảo kế hoạch sản xuất của năm.

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 487 triệu USD, giảm 9,5% so với năm trước, đạt 141,1% so với kế hoạch (345 triệu USD).

6. Tài chính, ngân hàng

a. Thu, chi ngân sách Nhà nước         

   Tổng thu ngân sách tỉnh năm 2021 đạt dự toán đề ra do dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát tốt trong 6 tháng đầu năm. Chi ngân sách Nhà nước tập trung bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế và quản lý Nhà nước.

Tổng thu ngân sách tỉnh năm 2021 ước đạt 3.907 tỷ đồng và đạt 100,2% dự toán HĐND tỉnh giao. Trong đó: Thu nội địa 3.000 tỷ đồng, đạt 111,1% dự toán được HĐND tỉnh giao, tăng 1% so với năm 2020; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 907 tỷ đồng, đạt 75,6% dự toán HĐND tỉnh giao.

    Có 11/16 khoản thu dự kiến đạt và vượt dự toán HĐND tỉnh giao, gồm: thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài; thu từ khu vực CTN và dịch vụ NQD; thuế thu nhập cá nhân; thu thuế SDĐ phi nông nghiệp; thu tiền cho thuê đất; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; thu lệ phí trước bạ; thu phí, lệ phí; thu khác ngân sách; thu từ quỷ đất công ích và hoa lợi công sản khác; thu hồi vốn và lợi nhuận sau thuế.

Có 5/16 khoản thu không đạt dự toán HĐND tỉnh giao gồm: thu từ DNNN Trung ương; thu từ DNNN địa phương; thu tiền sử dụng đất; thu thuế bảo vệ môi trường và thu xổ số kiến thiết.

            Tổng chi ngân sách địa phương 6.591 /5.606 tỷ đồng (không tính chi từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ), đạt 118% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

   b. Ngân hàng

            Hoạt động tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn trong năm 2021 nhìn chung ổn định và an toàn. Huy động vốn từ tổ chức kinh tế, dân cư và dư nợ tín dụng có sự tăng trưởng so với cuối năm 2020. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tỷ lệ nợ xấu tăng.

            Huy động vốn: Ước đến 31/12/2021, huy động vốn đạt 19.200 tỷ đồng, tăng 2.422 tỷ đồng (+14,4%) so với cuối năm trước, bằng 102,1% so với kế hoạch đề ra, đáp ứng khoảng 54,9% nguồn vốn cho vay của các TCTD trên địa bàn.

            Đầu tư tín dụng: tổng doanh số cho vay năm 2021 ước đạt 56.600 tỷ đồng, tăng 8.676 tỷ đồng (+18,14%) so với năm 2020.

            Chất lượng tín dụng: Tổng nợ xấu ước đến 31/12/2021 là 400 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,14% trong tổng dư nợ, tăng 0,5% so với tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2020 (số tuyệt đối tăng 205,2 tỷ đồng).

7. Đầu tư phát triển

   Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2021 giảm 3,9% so với năm 2020, trong đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước giảm 3,5% với tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư lớn nhất 79,3%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 27,7% do giải ngân các dự án năng lượng. Riêng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thấp.

            Huy động vốn đầu tư toàn xã hội năm 2021 ước đạt 28.270 tỷ đồng, giảm 3,9% so với năm 2020; trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước ước đạt 2.741 tỷ đồng, chiếm 9,7% trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và giảm 26,7%; khu vực ngoài nhà nước 22.423 tỷ đồng, chiếm 79,3% và giảm 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.106 tỷ đồng chiếm 11% và tăng 27,7%. Nguyên nhân giảm chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm đầu tư từ khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm.

Vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện năm 2021

 

Tổng số

(tỷ đồng)

Cơ cấu     (%)

So với cùng kỳ năm trước (%)

 

TỔNG SỐ

28.270

   100,0

 -3,9

Khu vực Nhà nước

  2.741

  9,7

-26,7

Khu vực ngoài Nhà nước

22.423

79,3

  -3,5

Khu vực có VĐ trực tiếp nước ngoài                                                     

  3.106

   11,0

   +27,7

 

8. Chỉ số giá (CPI)

   Dịch Covid-19 gây ảnh hưởng chuỗi cung ứng toàn cầu, giá một số mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhiên liệu và vật liệu xây dựng tăng làm cho chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2021, tăng 2,78% so với năm 2020. Đây là năm có mức tăng CPI thấp trong những năm gần đây (năm 2017 tăng 4,49%; năm 2018 tăng 3,63%; năm 2019 tăng 2,66%; năm 2020 tăng 5,15%).

   CPI bình quân năm 2021 tăng 2,78% so với bình quân năm 2020; CPI tháng 12/2021 tăng 1,98% so với tháng 12/2020. CPI bình quân năm 2021 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu; (2) Dịch bệnh Covid-19 làm nguồn cung một số mặt hàng thực phẩm bị hạn chế, giá nguyên vật liệu đầu vào sản xuất nhiều mặt hàng tăng; (3) Giá gas trong nước tăng, biến động theo giá gas thế giới; (4) Giá hầu hết các vật liệu xây dựng đều tăng, đặc biệt là giá thép tăng cao do giá phôi thép tăng mạnh; (5) Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh nhiều đợt, bình quân năm tăng 29,71%.

   Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2021: (1) Giá thịt gia súc giảm 7,72%, thịt gia cầm giảm 3,30% do nguồn cung đảm bảo, giá heo hơi giảm đã làm cho giá thịt heo và các sản phẩm chế biến từ thịt heo giảm so với năm trước; (2) Giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm, (3) Giá các loại hoa và cây cảnh giảm; (4) Giá vé máy bay giảm do tình hình dịch Covid-19 trong nước bùng phát trở lại nên cũng góp phần kiềm chế mức tăng CPI trong năm 2021.

   Do ảnh hưởng chung của giá vàng, đô la Mỹ trong nước và thế giới; So với năm 2020, chỉ số giá vàng năm 2021 tăng 7,33%, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,51%. Giá vàng 9999 hiện ở mức 5.210.000 đồng/chỉ; giá đô la Mỹ ở mức 23.680 đồng/USD.

9. Một số lĩnh vực xã hội

   Tình hình lao động, việc làm 6 tháng đầu năm 2021 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi tăng do nhu cầu thị trường lao động sụt giảm. Đời sống dân cư nhìn chung khó khăn. Chế độ an sinh xã hội được đảm bảo.

a) Dân số, lao động và việc làm

   Dân số trung bình năm 2021 là 596 nghìn người. Chất lượng dân số được cải thiện, mức sinh cơ bản duy trì mức sinh thay thế. Tỷ lệ tử vong vẫn duy trì ở mức thấp, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng do những thành tựu phát triển của y học và công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được cải thiện.

            Ước tính dân số trung bình năm 2021 đạt 596 nghìn người, tăng 0,41% so với năm 2020; tỷ lệ tăng tự nhiên 9,79%o; tỷ suất sinh thô 15,84%o; tỷ suất chết thô 6,05%o. Về cơ cấu nữ: 295 nghìn người, chiếm 49,5% số dân; nam 301 nghìn người, chiếm 50,5%. Về dân số theo khu vực thành thị đạt 211 nghìn người, chiếm 35,4%; nông thôn đạt 385 nghìn, chiếm 64,6%.

            Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ước tính đạt 317 nghìn người, chiếm 53,2% tổng dân số, giảm 0,42% so với năm trước. Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế: Nông, lâm, thủy sản chiếm 43,9%; Công nghiệp – Xây dựng chiếm 22,6%; Dịch vụ chiếm 33,5%.

            Trong năm 2021, công tác giải quyết việc làm mới được quan tâm triển khai đồng bộ và gắn liền với phát triển kinh tế- xã hội của từng địa phương. Kết quả giải quyết việc làm mới năm 2021: đã giải quyết việc làm mới cho 11.237 lao động, đạt 70,2% kế hoạch giao, trong đó: Lao động đi làm việc trong tỉnh là 6.217 lao động, chiếm 54,5%; Lao động đi làm việc ngoài tỉnh là 4.992 lao động, chiếm 44,4%; Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 28 lao động, đạt 18,7% kế hoạch giao (28/150), chiếm 0,2%.

b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh, đợt dịch thứ tư bùng phát từ ngày 03/7/2021 đến nay làm cho đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang vẫn đang được thực hiện theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP ban hành ngày 09/5/2019 của Chính Phủ là 1,49 triệu đồng/tháng. Bên cạnh dịch bệnh Covid-19 đã tác động không thuận lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm giảm việc làm, giảm thu nhập của người lao động hưởng tiền lương, tiền công. Đời sống nông dân cũng ảnh hưởng khi giá cả nhiều loại nông sản bị giảm, hàng hóa khó lưu thông, khó tiêu thụ.

            Trong quý IV năm 2021, tỉnh tiếp tục triển khai các gói hỗ trợ người lao động, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Theo đó, tính đến ngày 29/11/2021, có 12 chính sách đã hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động với 67.211 lượt lao động, kinh phí hơn 100 tỷ đồng.

Các ngành chức năng của tỉnh cũng phối hợp triển khai thực hiện tốt việc cấp phát gạo hỗ trợ của Chính phủ nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 là 530,205 tấn gạo cho 8.913 hộ/35.347 khẩu; cho người dân có khả năng thiếu đói do ảnh hưởng dịch bệnh Covid - 19 trên địa bàn tỉnh là 577,2 tấn gạo với 9.752 hộ/38.480 khẩu.

c) Giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao

Dịch bệnh Covid-19 gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao trong năm, nhất là ở 6 tháng cuối. Hoạt động của các ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  

            Ngành Giáo dục triển khai dạy và học trực tuyến cho đa số các cấp học. Bước vào năm học 2021-2022: toàn tỉnh có 310 cơ sở giáo dục, đào tạo (trong đó có 28 trường ngoài công lập). Tổng số học sinh toàn tỉnh đầu năm học 2021-2022 là 146.817 HS, tăng 1,87% so cùng kỳ năm trước (trong đó: cấp Mầm non tăng 0,9%; Tiểu học tăng 3,3%; THCS tăng 0,1%; THPT tăng 2,6%).

            Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, liên tục có các ca bệnh trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Tính từ đầu năm đến 18h00 ngày 20/12/2021, toàn tỉnh có 5.213 người mắc bệnh Covid-19, tăng cao so với năm 2020 (năm 2020 có 03 người mắc bệnh). Riêng đợt dịch thứ 4 tính từ ngày 03/7/2021, phát hiện 5.204 người mắc bệnh; có 4.560 người được điều trị khỏi xuất viện; 52 người tử vong. Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh đã tiêm 898.480 mũi vắc xin (đạt tỷ lệ 94,9%), trong đó số người đã tiêm mũi 1 là 477.247; số người đã tiêm mũi 2 là 375.679.

            Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhiều hoạt động của ngành văn hóa phải tạm dừng hoạt động như: tổ chức biểu diễn nghệ thuật, các giải thi đấu thể dục thể thao, các hoạt động đón khách tham quan, công tác xúc tiến quảng bá du lịch tại các sự kiện, hội chợ du lịch... Thể thao tham dự 03 giải Quốc gia và 03 giải khu vực mở rộng, đạt 17 huy chương (HC) các loại; trong đó, giải quốc gia 01 HCV, 02 HCB, 02 HCĐ; Giải khu vực và mở rộng: 01 HCV, 05 HCB, 06 HCĐ..

d) Tai nạn giao thông

      Lũy kế năm 2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông, làm 50 người chết và 129 người bị thương. So với năm 2020, tai nạn giao thông giảm trên cả 3 tiêu chí. Số vụ tai nạn giao thông năm 2020 giảm 17 vụ (-11%); số người chết giảm 11 người (-18%); số người bị thương giảm 21 người (-14%). Toàn bộ 137 vụ tai nạn giao thông thuộc đường bộ. Bình quân 2,7 ngày xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông.

e) Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

            Năm 2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai, làm chết 02 người, giảm 04 người so với năm 2020; ước tổng giá trị thiệt hại hơn 92 tỷ đồng, giảm 38,7 tỷ đồng (giảm 29,6%).

            Xảy ra 08 vụ cháy, giảm 07 vụ so với năm 2020; không có người chết và bị thương, không tăng không giảm so với năm 2020; tổng thiệt hại tài sản là 547,6 triệu đồng, giảm 11.152,4 triệu đồng (giảm 95,3%).

III. Giải pháp trong thời gian tới

   Theo dự báo của các chuyên gia về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn, thách thức trong thời gian tới; diễn biến dịch bệnh Covid-19 phức tạp, khó lường. Nhằm kịp thời có những giải pháp khắc phục, cần phải chủ động tận dụng cơ hội thực hiện tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, tạo đà phát triển mạnh cho những năm tiếp theo. Cần tập trung vào một số nội dung, sau đây:

   Một là, tỉnh cần xác định mục tiêu thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng Nhân dân, tận dụng tốt cơ hội để thúc đẩy phục hồi phát triển kinh tế - xã hội gắn với hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân.

   Hai là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, nâng cao năng suất lao động.

   Ba là, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, động lực; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.

   Bốn là, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

   Năm là, quản lý chặt chẽ đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

   Sáu là, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; sắp xếp tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

 

CỤC THỐNG KÊ NINH THUẬN
Thống kê truy cập
  • Đang online: 3
  • Hôm nay: 11
  • Trong tuần: 4522
  • Tất cả: 554588

Copyright © 2016 CỤC THỐNG KÊ TỈNH NINH THUẬN

ĐƯỜNG 16 THÁNG 4, PHƯỜNG MỸ HẢI,  TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, NINH THUẬN

Điện thoại: 0259 3 830318  * Email: ninhthuan@gso.gov.vn