Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2023

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1 Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/10/2023, cả tỉnh gieo cấy được 13,5 nghìn ha lúa mùa, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước; 11,4 nghìn ha ngô, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước; 0,2 nghìn ha khoai lang, tăng 0,3%; 0,6 nghìn ha lạc, tăng 4,3%; 11,8 nghìn ha rau, đậu các loại, giảm 0,4%.

Ước tính cuối tháng Mười, tổng số trâu của cả tỉnh giảm 0,7% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số bò tăng 0,4%; tổng số heo tăng cao 9%; tổng số dê, cừu giảm 6,4%; tổng số gia cầm giảm 2,1%.

1.2 Lâm nghiệp

Trong tháng, số diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 250 ha, giảm 31,5% so cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước thực hiện 80 nghìn cây, tăng 42,9% so cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước được 90 m3, giảm 25%; sản lượng củi khai thác là 2,2 nghìn ste, giảm 22,5%.

Tính chung 10 tháng, diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 250 ha, giảm 40,4% so cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước được 370,5 nghìn cây, tăng 34,1%. Sản lượng khai thác gỗ ước đạt 1.175 m3, tăng 31,1%; sản lượng khai thác củi đạt 27,7 nghìn ste , tăng 3%.

1.3 Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 9.311,9 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 7.884,1 tấn, tăng 2,9%; tôm đạt 683,1 tấn, tăng 4,6%; thủy sản khác đạt 744,7 tấn, tăng 8,2%.

Lũy kế 10 tháng năm 2023, sản lượng thủy sản ước đạt 133.940,7 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng trưởng thấp nhất và có xu hướng tăng chậm dần trong các năm 2017-2023; trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 9.314,9 tấn, tăng 4,1%; sản lượng khai thác đạt 124.625,8 tấn, tăng 2,9%.

            2. Sản xuất công nghiệp

   Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tháng 10/2023 ước giảm 2,97% so với tháng trước và tăng 15,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai khoáng tăng 39,84%; sản xuất và phân phối điện tăng 23,13%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,78%; riêng ngành chế biến, chế tạo giảm 1,03%.

   Tính chung 10 tháng, IIP ước tính tăng 11,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chủ lực sản xuất và phân phối điện chỉ tăng 12,56% là động lực tăng trưởng toàn ngành; ngành khai khoáng tăng 55,32%; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,60%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: sản xuất đường tăng 50,6% (hiện đang tạm ngưng sản xuất do hết nguyên liệu); muối biển tăng 35,6%; hạt điều khô tăng 31,9%; muối chế biến tăng 23%; điện sản xuất tăng 10,8% (trong đó, điện mặt trời tăng 6,7%); quần áo các loại tăng 9,1%; tôm đông lạnh tăng 3,7%; thạch nha đam tăng 2,7%. Một số sản phẩm giảm: tinh bột mỳ giảm 38,7% (hiện đang tạm ngưng sản xuất); bia đóng lon giảm 16,1%; phân vi sinh giảm 4,2%; một số sản phẩm xây dựng giảm (trong đó, khai thác đá xây dựng giảm 6,7%; xi măng giảm 36,1%; gạch giảm 50,7%).

            3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Lũy kế 10 tháng đầu năm, có 364 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 5.491,2 tỷ đồng, giảm 16,1% số doanh nghiệp và giảm 59,9% số vốn đăng ký so cùng kỳ năm 2022.

Có 121 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; 79 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 8,2%; 204 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 7,9%.

            4. Đầu tư

Vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười ước đạt 327,7 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh: 246,1 tỷ đồng, tăng 9,1% và tăng 27,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện: 79,8 tỷ đồng, giảm 16,2% và giảm 28%.

Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.196,8 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh: 1.440,8 tỷ đồng, tăng 16,9%; vốn NS Nhà nước cấp huyện: 735,7 tỷ đồng, giảm 1,2%.

            5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh 10 tháng năm 2023 ước đạt 3.012,8 tỷ đồng, đạt 82,4% dự toán được Hội đồng nhân dân tỉnh giao; trong đó; thu nội địa 2.985,8 tỷ đồng, đạt 85,1% dự toán, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước; thu xuất nhập khẩu 27 tỷ đổng, đạt 18% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương 6.042,7 tỷ đồng (không tính chi từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ), đạt 80,1% dự toán được Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

            6. Thương mại, giá cả, dịch vụ

6.1 Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 3.135,2 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.

   Tính chung 10 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 31.413,7 tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 37,6%).

Xét theo ngành hoạt động 10 tháng đầu năm nay: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 23.909,1 tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 28%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 27,4%; may mặc tăng 24,3%; lương thực, thực phẩm tăng 8,4%; phương tiện đi lại tăng 7,3%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 4.861,7 tỷ đồng, chiếm 15,5% tổng mức và tăng 31,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 12,8 tỷ đồng, chiếm 0,04% và tăng 136,7%. Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 2.630,1 tỷ đồng, chiếm 8,4% và tăng 21,3%.

6.2 Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

   Trong mức tăng 1,54% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2023 so với tháng trước có 5/11 nhóm có CPI tăng: nhóm giáo dục tăng cao nhất với 36,47% , góp phần làm CPI chung tăng 1,95 điểm phần trăm; do Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận ban hành Nghị Quyết số 17/2023/NQ-HĐND ngày 25/7/2023 quy định mức thu học phí tăng đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,88%. Nhóm may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,60%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%. 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ CPI giảm, gồm: nhóm giao thông giảm 1,64%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,27% chủ yếu do giá thực phẩm giảm 0,45% và giá lương thực giảm 0,06%. 4/11 nhóm ổn định: Nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính, viễn thông và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác.

6.3 Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 1,7 triệu lượt hành khách vận chuyển, giảm 1,7% so với tháng trước và luân chuyển 136,3 triệu lượt hành khách.km, giảm 1,8%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2023, vận tải hành khách đạt 11 triệu lượt hành khách vận chuyển, tăng 56,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 887,6 triệu lượt hành khách.km, tăng 57,2%. Toàn bộ là hoạt động vận tải đường bộ trong nước.

   Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 1,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 5,7% so với tháng trước và luân chuyển 93,2 triệu tấn.km, giảm 4,9%. Lũy kế 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 11,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 31,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 866,2 triệu tấn.km, tăng 32,2%. Toàn bộ là hoạt động vận tải  đường bộ trong nước.

            7. Một số vấn đề xã hội

7.1 Đời sống dân cư, công tác an sinh xã hội

Trong tháng Mười, công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách Người có công với cách mạng, các hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội, người cao tuổi,... tiếp tục được triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng. Công tác người cao tuổi, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được quan tâm. Đời sống dân cư ổn định.

7.2 Lao động, việc làm

   Công tác tư vấn giới thiệu việc làm tiếp tục được đổi mới, mở rộng hướng tiếp cận của người lao động. Trong tháng, số người được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề là 3.468 lượt người; nâng số người được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề là 10 tháng đầu năm là 25.865 lượt người, đạt 172,5% so với kế hoạch.

7.3 Giáo dục

Tổ chức kỳ thi tuyển chọn đội tuyển tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2023-2024, diễn ra từ ngày 14-15/10/2023.

7.4 Chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được duy trì thường xuyên. Tính từ đầu năm 2023 đến 19/10/2023, toàn tỉnh ghi nhận 239 trường hợp mắc Covid-19, không có tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số ca mắc giảm 91,8%.

Một số bệnh mùa hè có xu hướng tăng: Tay chân miệng 478 ca, tăng 439 ca so với cùng kỳ năm 2022; Thủy đậu 85 ca, tăng 80 ca; Sốt rét 08 ca, tăng 04 ca; Sốt xuất huyết 504 ca, giảm 718 ca.

7.5 Văn hóa, thể thao

Tổ chức các hoạt động phục vụ Lễ hội Katê và Chương trình Nghệ thuật đặc biệt phục vụ đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn vui đón Lễ hội Katê năm 2023.

Tổ chức thành công các giải thể thao: Giải Cờ vua các nhóm tuổi tỉnh Ninh Thuận năm 2023; Giải bóng đá học sinh tiểu học tỉnh Ninh Thuận năm 2023 và giải Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Ninh Thuận năm 2023. Các đội Taekwondo, Vovinam, Karate, Quần vợt và Điền kinh tham gia các giải thi đấu ngoài tỉnh đạt 02 huy chương vàng và 03 huy chương đồng.

7.6 Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ ngày 15/9/2023 đến 14/10/2023), xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông, làm 07 người chết, 36 người bị thương. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 42,1% (tăng 08 vụ); số người chết tăng 16,7% (tăng 01 người); số người bị thương tăng 100% (tăng 18 người). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 285,7% (tăng 20 vụ); số người chết tăng 133,3% (tăng 04 người); số người bị thương tăng 5 lần (tăng 30 người).

Tính chung 10 tháng, cả tỉnh đã xảy ra 128 vụ tai nạn giao thông, làm 41 người chết, 129 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 12,3% (tăng 14 vụ); số người chết không tăng không giảm; số người bị thương tăng 13,2% (tăng 15 người).

7.7 Tình hình cháy, nổ

            Lũy kế 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy; làm 01 chiến sĩ tham gia chữa cháy bị thương; tài sản thiệt hại 3.379,3 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 02 vụ; số người chết giảm 03 người, số người bị thương không tăng không giảm; thiệt hại về tài sản tăng 2.677,3 triệu đồng.

7.8 Thiệt hại do thiên tai

Lũy kế 10 tháng, xảy ra 05 vụ thiên tai, làm chết 02 người, bị thương 02 người; thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ thiên tai tăng 03 vụ, số người chết tăng 02 người, số người bị thương tăng 02 người; thiệt hại về tài sản tăng 1,3 tỷ đồng.

*Đính kèm file: “Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 10 và 10th năm 2023”

Nguyễn Hồng Thiện
 
Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 6
  • Hôm nay: 52
  • Trong tuần: 4275
  • Tất cả: 933904

Copyright © 2016 CỤC THỐNG KÊ TỈNH NINH THUẬN

ĐƯỜNG 16 THÁNG 4, PHƯỜNG MỸ HẢI,  TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, NINH THUẬN

Điện thoại: 0259 3 830318  * Email: ninhthuan@gso.gov.vn